AIHienThan.comAI Hiện Thân
Quyền hình ảnh, giọng nói và dữ liệu sinh trắc

Quyền hình ảnh cá nhân là gì: nguyên lý pháp luật khi làm avatar và nhân vật số

Quyền hình ảnh cá nhân theo pháp luật Việt Nam: khi nào phải xin đồng ý, khi nào phải trả thù lao, hai ngoại lệ và cách áp vào avatar, người dẫn ảo.

Close-up of Vietnamese hands holding a small instant photograph face down above a wooden desk in a Hanoi apartment, soft window light, deep violet and sky blue tones

Quyền hình ảnh cá nhân là quyền của mỗi người quyết định ai được dùng hình ảnh của mình, dùng vào việc gì. Theo Bộ luật Dân sự hiện hành của Việt Nam, muốn dùng hình ảnh của một người thì phải được người đó đồng ý; dùng vì mục đích thương mại thì còn phải trả thù lao, trừ khi hai bên thoả thuận khác. Chỉ có hai nhóm ngoại lệ hẹp: vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, và hình ảnh lấy từ hoạt động công cộng mà không làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín của người trong ảnh.

Nguyên tắc này viết ra từ trước khi có avatar AI, nhưng áp thẳng vào nó. Một avatar dựng từ ảnh chân dung, một người dẫn ảo mang gương mặt nhân viên, một nhân vật số "na ná" người mẫu đều là cách dùng hình ảnh của một con người cụ thể. Bài này giải thích nguyên lý theo từng ý, rồi đặt chúng cạnh những việc người làm nội dung, giáo viên, phòng truyền thông hay làm với hiện thân số. Đây là kiến thức nền, không phải tư vấn cho vụ việc cụ thể; văn bản pháp luật có thể sửa đổi nên bạn luôn kiểm bản đang có hiệu lực.

Hình ảnh là quyền nhân thân, không phải tài sản bán đứt

Pháp luật dân sự Việt Nam xếp quyền đối với hình ảnh vào nhóm quyền nhân thân, cùng chỗ với quyền về danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền về đời sống riêng tư. Điểm khác căn bản giữa quyền nhân thân và quyền tài sản là quyền nhân thân gắn với con người, không chuyển nhượng được theo kiểu mua đứt một món hàng. Bạn có thể cho phép người khác dùng hình ảnh của mình trong phạm vi, thời hạn, mục đích cụ thể, nhưng không có chuyện "bán gương mặt" để từ đó bên mua toàn quyền.

Với hiện thân số, hiểu điều này giúp đọc đúng các hợp đồng và điều khoản. Khi một dịch vụ ghi rằng bạn "cấp quyền vĩnh viễn, không hủy ngang, trên toàn thế giới" đối với ảnh tải lên, đó là cách viết theo thói quen của hợp đồng nước ngoài. Ở Việt Nam, mức độ ràng buộc của câu chữ như vậy khi áp vào quyền nhân thân là câu hỏi pháp lý phức tạp, chưa có lời giải sẵn cho mọi tình huống. Cách an toàn là coi mọi sự cho phép dùng hình ảnh như một thoả thuận có giới hạn, và đọc kỹ giới hạn đó trước khi đồng ý.

Một hệ quả nữa: hình ảnh không chỉ là bức ảnh gốc. Ảnh đã qua chỉnh sửa, tranh vẽ lại, mô hình ba chiều, hay một gương mặt do AI tạo ra mà người quen nhìn vào nhận ra ngay là ai, đều có thể bị coi là dùng hình ảnh của người đó. Tiêu chí thực tế là có nhận ra được người cụ thể hay không, chứ không phải tệp ảnh gốc có nằm trong sản phẩm hay không.

Ba nguyên tắc cốt lõi khi dùng hình ảnh người khác

Phải có đồng ý của người có hình ảnh. Đây là mặc định. Không có đồng ý thì không dùng, kể cả khi ảnh đã đăng công khai trên mạng xã hội. Ảnh công khai nghĩa là ai cũng xem được, không có nghĩa là ai cũng được lấy về làm avatar, đưa vào video hay huấn luyện một mô hình nhân vật. Nhiều tranh chấp bắt đầu từ chính sự nhầm lẫn này.

Dùng vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao, trừ khi có thoả thuận khác. Quảng cáo, bán hàng, video có gắn sản phẩm, kênh có kiếm tiền đều dễ bị coi là thương mại. Thù lao không bắt buộc là tiền mặt lớn; hai bên có thể thoả thuận miễn thù lao, nhưng thoả thuận đó nên ghi rõ thành văn bản để sau này không ai phải nhớ lại bằng trí nhớ.

Người có hình ảnh có quyền yêu cầu chấm dứt và bồi thường. Khi hình ảnh bị dùng sai, người đó có quyền yêu cầu Toà án buộc bên vi phạm thu hồi, tiêu huỷ, chấm dứt việc sử dụng và bồi thường thiệt hại. Với nhân vật số, "thu hồi" có thể nghĩa là gỡ mọi video đã đăng, xoá mô hình đã dựng và dữ liệu mẫu, việc tốn kém hơn nhiều so với gỡ một tấm ảnh.

Đồng ý cho việc này không có nghĩa là đồng ý cho việc khác. Người mẫu đồng ý chụp ảnh sản phẩm không vì thế mà đồng ý để gương mặt mình được dựng thành người dẫn ảo nói những câu họ chưa từng nói. Mỗi cách dùng mới, nhất là cách dùng làm hình ảnh "nói" và "cử động", nên có sự đồng ý riêng.

Hai ngoại lệ không cần đồng ý và vì sao chúng hẹp hơn bạn nghĩ

Bộ luật Dân sự nêu hai trường hợp được dùng hình ảnh mà không cần hỏi người có hình ảnh. Người làm nội dung hay hiểu rộng hai ngoại lệ này; bảng dưới đặt chúng cạnh các tình huống hiện thân số để thấy giới hạn.

Ngoại lệHiểu đúngÁp vào hiện thân số
Vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộngThường gắn với thông tin của cơ quan có thẩm quyền, tuyên truyền phòng chống dịch, truy tìm người mất tíchGần như không bao giờ là căn cứ để một cá nhân hay doanh nghiệp tự dựng nhân vật số từ gương mặt người khác
Từ hoạt động công cộng (hội nghị, hội thảo, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật)Được đưa tin, ghi lại sự kiện, miễn không làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tínQuay một diễn giả tại hội thảo để đưa tin thì có thể ổn; lấy đoạn quay đó dựng thành người dẫn ảo đọc kịch bản mới thì đã vượt ra khỏi việc ghi lại sự kiện
Không thuộc ngoại lệ nàoMặc định phải hỏiAvatar từ ảnh đồng nghiệp, nhân vật quảng cáo mang mặt khách hàng, video người dẫn ảo dựng từ ảnh giáo viên cũ

Điều kiện "không làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín" đặc biệt quan trọng với AI. Một gương mặt bị đặt vào lời nói, hành động mà người đó không làm, dù không ác ý, rất dễ làm người khác hiểu sai về họ. Vì vậy, khi đã chuyển từ ghi lại sang tạo mới, bạn nên coi như mình đang ở vùng phải xin phép.

Avatar, người dẫn ảo, nhân vật na ná: ba tình huống thường gặp

Avatar của chính bạn. Bạn có toàn quyền với hình ảnh của mình, nên tự làm avatar từ ảnh mình là việc bình thường. Câu hỏi pháp lý lúc này chuyển sang phía dịch vụ: khi bạn tải ảnh lên, bạn đang cho phép họ làm gì với nó. Phần đó nằm ở điều khoản dịch vụ và quy định về dữ liệu cá nhân, có bài riêng trong danh mục này.

Người dẫn ảo dựng từ gương mặt một người cụ thể. Ví dụ giả định: một trung tâm tiếng Anh ở Đà Nẵng muốn dựng người dẫn ảo từ video của cô giáo đang dạy để làm bài giảng ngắn. Đây là dùng hình ảnh, có khi kèm giọng nói, của một người cụ thể và thường có tính thương mại. Cần đồng ý bằng văn bản nêu rõ phạm vi, thời hạn, thù lao hoặc thoả thuận miễn thù lao, và điều gì xảy ra khi cô giáo nghỉ dạy. Phần hợp đồng giữa công ty và nhân viên về bản sao số được bàn kỹ ở danh mục bản sao số của trang.

Nhân vật "không phải ai cả" nhưng giống một người. Nhiều đơn vị dùng công cụ tạo gương mặt rồi cho rằng nhân vật không có thật nên không cần hỏi ai. Rủi ro xuất hiện khi gương mặt đó được tạo bằng cách gợi ý "giống ca sĩ X", hoặc được tinh chỉnh từ ảnh một người cụ thể. Nếu người xem nhận ra người thật, cách lập luận "nhân vật hư cấu" sẽ khó đứng vững. Nguyên tắc thực hành: không dùng ảnh hay tên người thật làm đầu vào khi tạo nhân vật hư cấu, và lưu lại quy trình tạo để chứng minh khi cần.

Quy trình năm bước trước khi đưa gương mặt người thật vào sản phẩm số

Dù bạn là người sáng tạo nội dung một mình hay phòng truyền thông của công ty, năm bước dưới đây giúp tránh phần lớn rủi ro về quyền hình ảnh. Chúng không thay cho tư vấn pháp lý, nhưng đặt bạn vào thế đã làm đủ phần việc cẩn trọng.

  1. Xác định người có hình ảnh. Liệt kê mọi gương mặt nhận ra được trong sản phẩm: người dẫn, người xuất hiện phía sau, khách hàng trong ảnh minh hoạ. Nhân vật dựng từ nhiều người cũng phải liệt kê từng người đóng góp.
  2. Xác định cách dùng. Ghi rõ là ảnh tĩnh, video ghi lại, hay hình ảnh được AI làm cho cử động và nói lời mới. Mức thứ ba cần đồng ý chặt nhất.
  3. Xác định có tính thương mại không. Có quảng cáo, bán hàng, kênh kiếm tiền, hay dùng cho thương hiệu không. Nếu có, chuẩn bị điều khoản thù lao hoặc thoả thuận miễn thù lao.
  4. Lấy đồng ý bằng văn bản. Văn bản nêu mục đích, kênh đăng, thời hạn, quyền rút lại, cách xoá dữ liệu. Tin nhắn "ok em" trên ứng dụng chat là bằng chứng yếu; nên có bản ký hoặc xác nhận rõ ràng.
  5. Lưu hồ sơ và gắn nhãn. Lưu văn bản đồng ý cùng thư mục với dữ liệu gốc, ghi ngày hết hạn, và gắn nhãn nội dung do AI tạo khi gương mặt thật được AI làm cho cử động.

Năm bước này mất chừng nửa giờ cho một dự án nhỏ. So với chi phí gỡ video, làm lại nhân vật và thương lượng khi có người phản đối, đó là khoản đầu tư thời gian rẻ nhất trong cả quy trình sản xuất.

Những hiểu lầm phổ biến về quyền hình ảnh

"Ảnh đã đăng công khai thì ai cũng dùng được." Không đúng. Công khai để xem khác với cho phép dùng lại. Điều khoản của mạng xã hội thường cho chính nền tảng một số quyền với ảnh bạn đăng, chứ không cho người dùng khác quyền lấy ảnh đó đi làm việc riêng.

"Chỉnh sửa đủ nhiều thì không còn là hình ảnh của họ." Tiêu chí là người xem có nhận ra người cụ thể hay không. Một bức tranh phong cách hoạt hình vẫn có thể là hình ảnh của một người nếu đặc điểm nhận dạng còn rõ.

"Không kiếm tiền thì không cần xin phép." Không kiếm tiền chỉ ảnh hưởng tới chuyện thù lao. Nghĩa vụ xin đồng ý vẫn còn nguyên với mọi cách dùng không thuộc ngoại lệ.

"Dùng ảnh nhân viên trong video nội bộ là quyền của công ty." Hợp đồng lao động thường không tự động bao gồm quyền dùng gương mặt nhân viên làm nhân vật số. Cần thoả thuận riêng, nhất là khi nội dung có thể lộ ra ngoài.

"Người nổi tiếng thì hình ảnh là của công chúng." Người nổi tiếng vẫn có quyền hình ảnh như mọi người. Việc đưa tin về hoạt động công khai của họ khác hẳn việc dựng gương mặt họ thành nhân vật quảng cáo hay nhân vật nói lời mới.

Khi nào nên hỏi luật sư thay vì tự xử

Phần lớn việc thường ngày như làm avatar cho chính mình, dựng người dẫn ảo từ chính gương mặt chủ kênh, hay dùng nhân vật hoạt hình tự vẽ, bạn có thể tự xử bằng các nguyên tắc ở trên. Có một số tình huống nên dừng lại và hỏi người có chuyên môn: dự án thương mại dùng gương mặt người khác với quy mô lớn; hợp đồng của đối tác nước ngoài muốn quyền sử dụng hình ảnh rộng và lâu dài; nhân vật số liên quan tới người đã mất, trẻ em, hoặc người đang tranh chấp với bạn; hoặc khi bạn đã nhận được yêu cầu gỡ bỏ, đòi bồi thường.

Khi hỏi, chuẩn bị sẵn ba thứ: mô tả cách dùng hình ảnh (kênh, thời gian, có kiếm tiền không), văn bản đồng ý hiện có nếu có, và điều khoản của công cụ AI đang dùng. Bạn có thể đặt câu hỏi với luật sư trên AI Cố Vấn, nền tảng hỏi đáp pháp lý của cùng hệ, để được hướng dẫn theo đúng tình huống của mình. Bài viết này chỉ cung cấp nguyên lý chung; mỗi vụ việc có chi tiết riêng mà chỉ người đọc hồ sơ cụ thể mới đánh giá được.

Câu hỏi thường gặp

Dùng ảnh của chính mình làm avatar AI có cần lưu ý pháp lý gì không?

Bạn có toàn quyền với hình ảnh của mình, nên phần cần lưu ý nằm ở dịch vụ bạn dùng. Đọc điều khoản về việc họ lưu ảnh bao lâu, có dùng để huấn luyện mô hình không, có cho bên thứ ba truy cập không, và cách yêu cầu xoá. Nếu ảnh có người khác cùng khung hình, hãy cắt họ ra trước khi tải lên.

Ảnh chụp tập thể có cần xin phép từng người khi đưa vào video người dẫn ảo không?

Nếu những người trong ảnh nhận ra được và ảnh được dùng ngoài mục đích ghi lại sự kiện, bạn nên xin phép từng người hoặc làm mờ những người không đồng ý. Với video nội bộ, việc này vẫn cần làm vì nội dung nội bộ rất hay bị chuyển ra ngoài.

Dùng gương mặt do AI tạo hoàn toàn có vi phạm quyền hình ảnh không?

Nếu gương mặt không dựa trên người thật nào và không ai nhận ra được một người cụ thể, thường không phát sinh quyền hình ảnh của ai. Rủi ro xuất hiện khi gợi ý tạo nhắm vào người thật hoặc kết quả trùng hợp giống một người. Lưu lại quy trình tạo và không dùng ảnh người thật làm đầu vào.

Thù lao khi dùng hình ảnh vì mục đích thương mại tính thế nào?

Pháp luật không ấn định mức chung; hai bên tự thoả thuận theo phạm vi, thời hạn, kênh đăng và mức độ gắn với thương hiệu. Có thể thoả thuận miễn thù lao, nhưng nên ghi thành văn bản. Điều quan trọng là văn bản nói rõ thù lao đó trả cho cách dùng nào.

Người đã cho phép dùng hình ảnh có rút lại được không?

Về nguyên tắc, sự đồng ý gắn với quyền nhân thân và dữ liệu cá nhân có thể được rút lại, nhưng hệ quả phụ thuộc vào thoả thuận và những gì đã thực hiện trước đó. Văn bản đồng ý tốt nên nói trước cách xử lý khi rút lại: gỡ trong bao lâu, xoá dữ liệu mẫu thế nào.

Quyền hình ảnh có giống quyền tác giả của nhiếp ảnh gia không?

Không. Nhiếp ảnh gia có quyền tác giả với bức ảnh họ chụp; người trong ảnh có quyền đối với hình ảnh của mình. Muốn dùng một bức ảnh chân dung làm nhân vật số, thường cần cả hai: phép của người chụp đối với tác phẩm và phép của người được chụp đối với hình ảnh.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138